Một trang bài báo cùng chủ đề mô tả nghiên cứu về kiểu phản hồi của người chăm sóc và kết quả ngôn ngữ ở trẻ mầm non có và không có nghe kém tại Aotearoa New Zealand . Với độc giả ngoài bối cảnh New Zealand, điểm cần lưu ý là không nên tự động suy rộng mọi kết quả sang tất cả hệ thống gia đình, giáo dục hoặc can thiệp sớm khác.
Điểm cuối cùng rất quan trọng. Nếu một trẻ đã nói nhiều hơn hoặc giao tiếp rõ hơn, trẻ có thể tự nhiên “kéo” được nhiều phản hồi phong phú hơn từ người lớn. Bởi vậy, mối liên quan quan sát được không đồng nghĩa chắc chắn với quan hệ nhân quả.
Các nghiên cứu liên quan cho thấy trẻ nghe kém thường đối mặt với nguy cơ khó khăn ngôn ngữ cao hơn. Một nghiên cứu ở trẻ nghe kém hai bên ghi nhận điểm chuẩn trung bình về ngôn ngữ tiếp nhận là 85 và xem xét thành tích ngôn ngữ trong tương quan với mức nhận thức phi ngôn ngữ . Một nghiên cứu khác ở trẻ 5 tuổi nghe kém cho thấy điểm ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt trung bình thấp hơn khoảng 1 độ lệch chuẩn so với trẻ phát triển điển hình, còn điểm về tạo lời nói và chức năng hằng ngày thấp hơn hơn 1 độ lệch chuẩn .
Bối cảnh rộng hơn cũng ủng hộ việc xem xét cả lượng và kiểu đầu vào ngôn ngữ. Một tổng quan hệ thống giai đoạn 2006–2016 đã tổng hợp bằng chứng về khác biệt trong lượng ngôn ngữ đầu vào giữa trẻ có và không có nghe kém, đồng thời xem xét mối liên hệ giữa đầu vào ngôn ngữ với kết quả ngôn ngữ tiếp nhận và biểu đạt ở trẻ nghe kém .
Một phát hiện tinh tế từ nghiên cứu về đầu vào ngôn ngữ của cha mẹ là: không quan sát thấy khác biệt giữa các nhóm về cách cha mẹ tương tác với con, nhưng tác động của đầu vào ngôn ngữ lên khả năng ngôn ngữ của trẻ ở 48 tháng tuổi lại khác nhau giữa các nhóm . Trẻ có thính lực bình thường nhìn chung ít bị ảnh hưởng bởi phong cách ngôn ngữ của cha mẹ hơn; trẻ dùng máy trợ thính chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi lượng đầu vào ngôn ngữ; còn trẻ cấy ốc tai điện tử chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi đầu vào gợi trẻ nói và làm mẫu các dạng ngôn ngữ phức tạp hơn . Khi xem xét ảnh hưởng của đầu vào ngôn ngữ giai đoạn mầm non lên khả năng ngôn ngữ ở 10 tuổi, các hiệu ứng ở giai đoạn mầm non được ghi nhận lặp lại .
Nói gọn: câu chuyện không phải là “cha mẹ nhóm này tương tác kém hơn nhóm kia”. Bằng chứng cho thấy ngay cả khi cách tương tác nhìn chung không khác biệt, trẻ với tình trạng thính giác khác nhau có thể nhạy với đầu vào ngôn ngữ theo những cách khác nhau .
Bằng chứng được cung cấp vẫn để ngỏ nhiều câu hỏi quan trọng:
Nếu rút ra một hướng thực hành thận trọng, đó là không nên chỉ “đếm số từ” người lớn nói với trẻ. Điều đáng chú ý hơn là khi trẻ cất lời, người lớn đáp lại như thế nào. Các tác giả gợi ý gia đình và nhà giáo dục có thể hưởng lợi từ hướng dẫn hoặc huấn luyện để học và áp dụng các kiểu phản hồi “mức cao” trong tương tác nói tự nhiên với trẻ nghe kém .
Tuy nhiên, phát hiện này không nên bị biến thành một lời hứa đơn giản rằng chỉ cần cha mẹ hoặc giáo viên thay đổi cách nói là mọi khó khăn ngôn ngữ sẽ được giải quyết. Với trẻ nghe kém, khả năng tiếp cận âm thanh, thiết bị hỗ trợ nghe, thời điểm can thiệp và đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ đều là những yếu tố cần được xem xét cùng với môi trường giao tiếp.
Phản hồi “mức cao” của người chăm sóc, được mã hóa từ các bản ghi LENA, có tương quan với kết quả ngôn ngữ của trẻ; ở trẻ nghe kém, chất lượng và kiểu đầu vào ngôn ngữ của người lớn có thể đặc biệt quan trọng, nhưng bằng chứng hiện có chưa đủ để kết luận quan hệ nhân quả .