GDP Việt Nam tăng 9,95% so với cùng kỳ trong quý III/2026, nhanh hơn dự báo của giới kinh tế. Tuy vậy, mức tăng 9,01% trong chín tháng đầu năm cho thấy mục tiêu tăng trưởng cả năm trên 10% của Chính phủ vẫn chưa nằm chắc trong tay.
1
2
13
17
Quý III vượt dự báo, tăng nhanh hơn hai quý đầu năm
Tăng trưởng GDP quý III cao hơn mức 8,15% của quý I và 8,81% của quý II (đã điều chỉnh). Đây là mức tăng theo quý nhanh nhất kể từ quý III/2022. Kết quả cũng vượt dự báo trung vị 8,65% trong khảo sát tám nhà kinh tế của Bloomberg và mức dự báo 8,7% của Standard Chartered.
13
17
3
Dù con số chín tháng rất tích cực, tăng trưởng cả năm vẫn phải vượt mốc 10% mới đạt mục tiêu. Vì vậy, quý IV cần duy trì đà tăng mạnh; mức tăng cần thiết cụ thể còn tùy cách tính và trọng số GDP từng quý.
2
13
Công nghiệp, dịch vụ và đầu tư cùng nâng đỡ đà tăng
Trong chín tháng, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp khoảng 45% vào tăng trưởng GDP. Dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 49,6%; nhu cầu trong nước và du lịch là những yếu tố hỗ trợ được ghi nhận. Giải ngân đầu tư công nhanh hơn cùng một số dự án quy mô lớn đi vào hoạt động cũng góp phần thúc đẩy công nghiệp và xây dựng.
18
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho thấy cả lượng vốn đăng ký lẫn vốn đã thực sự giải ngân đều tăng. Tổng vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD trong chín tháng, tăng 76,4% so với cùng kỳ; vốn FDI giải ngân tăng 12,1%, lên 21,07 tỷ USD. Hai con số phản ánh những khía cạnh khác nhau: vốn đăng ký là cam kết đầu tư, còn vốn giải ngân là dòng tiền đã được đưa vào các dự án.
19
Xuất khẩu tăng mạnh và đầu tư hạ tầng cũng hỗ trợ tăng trưởng quý III, theo Reuters.
1 Nhìn chung, đà tăng không chỉ dựa vào thương mại mà còn có đóng góp từ sản xuất, dịch vụ trong nước và đầu tư.
18
Thặng dư thương mại tháng 9 chưa xóa được thâm hụt cả năm
Kim ngạch xuất khẩu tháng 9 tăng 39,1% so với cùng kỳ, đạt 59,48 tỷ USD; nhập khẩu tăng 45,8%, lên 58,21 tỷ USD. Nhờ đó, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại hàng hóa 1,27 tỷ USD trong tháng, sau chuỗi tháng thâm hụt.
1
5
Tuy nhiên, bức tranh lũy kế vẫn kém thuận lợi hơn: chín tháng đầu năm, Việt Nam thâm hụt thương mại khoảng 19,42 tỷ USD do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vì thế, kết quả tháng 9 là sự đảo chiều trong một tháng, chưa phải dấu hiệu cho thấy khoảng thâm hụt từ đầu năm đã được khắc phục.
11
Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch được báo cáo đạt 140 tỷ USD trong chín tháng đầu năm.
15 Mức độ tập trung này khiến triển vọng xuất khẩu nhạy cảm với thay đổi chính sách thương mại. Theo một nguồn trong các bản tin được dẫn, Mỹ áp thuế 12,5% lên hàng hóa Việt Nam từ tháng 7/2026. Các số liệu hiện có không xác định mức thặng dư thương mại song phương của Việt Nam với Mỹ, nên không thể suy ra con số đó chỉ từ giá trị xuất khẩu.
Lạm phát, chi phí năng lượng và rủi ro bên ngoài
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng 5,08% so với cùng kỳ; mức tăng trong chín tháng được báo cáo là 4,52%.
5
14 Báo cáo theo dõi kinh tế của Ngân hàng Thế giới cho biết lạm phát tháng 8 chịu một phần tác động từ giá dầu và chi phí vận tải tăng. Điều này cho thấy giá năng lượng có thể gây thêm áp lực lên chi phí sinh hoạt ngay cả khi sản lượng kinh tế đang tăng.
Các nguồn được dẫn ghi nhận rủi ro từ chi phí năng lượng và chính sách thương mại, nhưng không định lượng một hạn chế cụ thể về nguồn cung điện. Do đó, chưa thể đánh giá tác động của rủi ro điện năng đối với tăng trưởng quý cuối năm từ những số liệu này.
Kết quả quý III đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nhưng chưa bảo đảm mục tiêu sẽ đạt được. Trong quý IV, sức cầu xuất khẩu, dòng vốn đầu tư và hoạt động sôi động của công nghiệp lẫn dịch vụ sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Thâm hụt thương mại chín tháng, áp lực giá cả và các rủi ro bên ngoài vẫn là những yếu tố cần cân nhắc.
1
11
18