Điều quan trọng là việc giảm dư nợ margin chủ yếu do khách hàng chủ động thanh lý các vị thế đòn bẩy để trả nợ, chứ không phải do các lệnh giải chấp (forced liquidation) quy mô lớn. Nhiều công ty chứng khoán báo cáo rằng các trường hợp giải chấp vẫn ở mức "cực kỳ hạn chế" . Dư nợ margin đã giảm trong 11 ngày giao dịch liên tiếp cho đến giữa tháng 7, và tổng giá trị mua cổ phiếu bằng nguồn vốn vay margin vào cuối tháng 7 là 2,59 nghìn tỷ nhân dân tệ (383,4 tỷ USD), giảm 14% so với mức kỷ lục 3,01 nghìn tỷ nhân dân tệ vào ngày 25/6
.
Sau đợt thị trường điều chỉnh mạnh, các cơ quan quản lý Trung Quốc đã vào cuộc để kiềm chế rủi ro quá mức. Các công ty chứng khoán lớn bao gồm Citic Securities và East Money đã tăng cường giám sát đối với tài khoản mới, giao dịch ký quỹ (margin), cho vay chứng khoán và giao dịch quyền chọn – nâng cao yêu cầu tuân thủ và hạn chế giao dịch đòn bẩy đối với nhà đầu tư cá nhân . Các biện pháp bao gồm kiểm tra chặt chẽ hơn về tình hình tài chính, kinh nghiệm giao dịch và mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư
. Dư nợ margin đã giảm xuống còn 2,6 nghìn tỷ nhân dân tệ (362 tỷ USD) vào cuối tháng 7, sau khi vượt mốc 3 nghìn tỷ nhân dân tệ vào cuối tháng 6
.
Sự điều chỉnh của thị trường A-share phần lớn phản ánh việc "tái cơ cấu các giao dịch quá đông đúc" (crowded trades) trong cổ phiếu AI và bán dẫn, theo nhận định của CITIC Securities, trong khi dòng tiền luân chuyển sang các cổ phiếu tài nguyên và ngân hàng cũng làm giảm động lực cho các tài khoản đầu cơ mới . Đợt giảm điểm tập trung vào các cổ phiếu tăng trưởng mạnh trước đó, chứ không phải là một sự điều chỉnh trên diện rộng, và có vẻ giống như một sự tái định vị danh mục hơn là một sự đầu hàng vĩ mô
.
Cuộc bán tháo toàn cầu đã có những tác động đáng kể nhưng khác biệt giữa hai thị trường lớn của Trung Quốc:
Chỉ số Star 50 (chỉ số thiên về công nghệ) đã ghi nhận tháng giảm điểm tồi tệ nhất trong lịch sử vào tháng 7 . Chỉ số CSI 300 của Trung Quốc giảm 2,8% trong nửa cuối tháng, và chỉ số Shanghai Composite giảm 4,6% trong cùng khoảng thời gian hai tuần, do tâm lý thận trọng trước các đợt IPO lớn (ví dụ: CXMT) và hoạt động chốt lời tại các cổ phiếu AI và chip đông đúc . Chỉ số CSI 1000 giảm hơn 3% trong một phiên giao dịch, xuống mức thấp nhất kể từ ngày 24 tháng 3, phản ánh mức lỗ nặng của cổ phiếu công nghệ vốn hóa vừa và nhỏ
. Các cổ phiếu bán dẫn bao gồm SMIC, NAURA Technology và Luxshare Precision đều giảm
.
Chỉ số công nghệ của Hang Seng Index đã giảm 1,86% trong một phiên giao dịch vào cuối tháng 7 do lo ngại về sự suy giảm chi tiêu cho AI của Mỹ . Trong một phiên khác, chỉ số Hang Seng Tech giảm 4,37% . Tuy nhiên, các nhà đầu tư Trung Quốc đại lục đã đổ khoảng 8 tỷ USD vào cổ phiếu Hong Kong trong tháng 7, tìm nơi trú ẩn tại chỉ số Hang Seng tương đối rẻ hơn (giao dịch ở mức P/E 12,2 lần), tạo ra một vùng đỡ cho các cổ phiếu niêm yết tại Hong Kong
. Sự luân chuyển này đã giúp chứng khoán Hong Kong thể hiện sức chống chịu trong một số phiên nhất định, với chỉ số Hang Seng thậm chí còn tăng trong một số phiên khi thị trường đại lục giảm
.
Cuộc khủng hoảng bắt đầu với sự sụt giảm mạnh của cổ phiếu bán dẫn Mỹ – Nvidia, AMD và chỉ số SOX rộng hơn – do những nghi ngờ về lợi nhuận từ các khoản chi tiêu vốn khổng lồ cho AI, càng trở nên trầm trọng hơn bởi thông tin về mô hình AI Moonshot của Trung Quốc, làm gia tăng lo sợ về cạnh tranh . Chỉ số Nikkei của Nhật Bản đã giảm hơn 5% trong một phiên giao dịch duy nhất, và các cổ phiếu công nghệ châu Á nói chung đều thanh lý các vị thế liên quan đến AI
. Chỉ số bán dẫn Philadelphia đã mất khoảng 19% từ mức đỉnh tháng 6 .
Đến cuối tháng 7, cổ phiếu công nghệ đại lục đã tăng trở lại nhờ hy vọng rằng làn sóng bán tháo AI đang hạ nhiệt, theo đà tăng của Phố Wall và khắp châu Á, nhưng mức giảm trong tháng vẫn rất sâu, với chỉ số Star 50 vẫn ghi nhận tháng tồi tệ nhất trong lịch sử . CITIC Securities lưu ý vào đầu tháng 8 rằng khả năng phục hồi trên diện rộng đang tăng lên và khuyến nghị chuyển dần sang định vị danh mục cân bằng hơn
.