... (bản dịch tiếp tục cho đến câu 18, nhấn mạnh vào các thuật ngữ biểu tượng).
¹⁴Và Milta đã trở nên bsrā (chất-thịt) và dựng-lều ở giữa chúng ta, và chúng ta đã chiêm-ngắm shūbḥā (vinh-quang-nặng-nề) của Ngài, một vinh quang như của đấng-duy-nhất-được-sinh-ra từ Cha-Nguồn, đầy ṭaybūtā (ân-huệ-không-đáng-được) và qšūṯā (chân-lý-vững-chắc) .
Phân đoạn này mô tả chức vụ của Giăng Báp-tít. Điều thú vị là cách Giăng tự xưng mình chỉ là một tiếng kêu trong mdabbrā (đồng-cỏ-hoang-dã). Ông làm phép báp-tem bằng nước, nhưng chỉ ra rằng có một Đấng mà họ không biết đang đứng giữa họ . Đấng ấy sẽ làm phép báp-tem trong Rūḥā d-Qūdšā (Sự chuyển-động-của-hơi-thở-thuộc-nơi-thánh-khiết)
. Câu chuyện về việc Thánh Linh ngự xuống như chim bồ câu và đậu trên Chúa Giê-su được ghi lại, với mục đích giúp Giăng nhận biết Ngài là Con của ʾALHĀ.
Phân đoạn cuối mô tả việc kêu gọi các môn đồ đầu tiên. Ở đây, các thuật ngữ như Rabbī (Đấng-Vĩ-Đại-Của-Tôi) và talmīḏē (người-học) được giữ nguyên và giải thích. Đặc biệt, cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và Na-tha-na-ên (Nəṯanʾēl) cho thấy khả năng nhìn thấu suốt siêu nhiên. Lời hứa cuối cùng là các môn đồ sẽ thấy šmayyā mở ra và các malʾakē (sứ-giả) lên xuống trên Con của Con-Người, biểu tượng cho sự kết nối liên tục giữa trời và đất .
Vinh quang trong 1:14 không phải từ bên ngoài gán cho mà phát-xuất từ chính hữu thể của Ngài. Trong 1:17, qšūṯā w-ṭaybūtā / chân-lý-vững-chắc-và-ân-huệ-không-đáng-được không phải là những phẩm chất trừu tượng được chuyển giao qua Đấng Christ, mà là những thực tại phát-xuất- từ Ngài, đang chảy-ra đến với những ai tiếp-nhận.