Đây chính là bối cảnh khiến đợt tăng hạn ngạch tháng 7 vừa là tất yếu, vừa mang tính tượng trưng cao. Liên minh vẫn đang tuân thủ một lịch trình đã định sẵn nhằm gỡ bỏ dần các đợt cắt giảm sản lượng trước đó – một kế hoạch được hình thành trong môi trường thị trường hoàn toàn khác biệt. Việc UAE mới rời khỏi nhóm đã buộc OPEC+ phải điều chỉnh giảm mức tăng của tháng 7 từ 206.000 thùng/ngày xuống còn 188.000 thùng/ngày để tính đến phần hạn ngạch của thành viên đã mất . Nhưng không một sự điều chỉnh ngoại giao nào có thể thu hẹp khoảng cách giữa một mục tiêu đang tăng và một cơ sở nguồn cung đang sụp đổ.
Cả Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và Ngân hàng Thế giới (WB) đều gọi sự gián đoạn tại Hormuz là cú sốc nguồn cung dầu lớn nhất trong lịch sử, với sức tàn phá vượt xa hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 cộng lại . Đến giữa tháng 5 năm 2026, hơn 14 triệu thùng/ngày sản lượng vùng Vịnh đã bị đóng băng, với tổn thất nguồn cung lũy kế từ cuối tháng 2 lên tới 12,8 triệu thùng/ngày theo chuỗi dữ liệu của IEA
.
Các chuyên gia thị trường nhấn mạnh rằng sự gián đoạn này không thể nhanh chóng đảo ngược. Bà Helima Croft từ RBC Capital Markets đã mô tả tiến trình khôi phục bằng một hình ảnh đầy ấn tượng: nó “không giống như bật tắt một công tắc”. Ngay cả khi eo biển sớm mở cửa trở lại, bà Croft và các nhà phân tích khác cũng không kỳ vọng sản lượng sẽ phục hồi trước cuối năm, bởi thiệt hại trên diện rộng đối với cơ sở hạ tầng năng lượng, sự phức tạp khi khởi động lại các giếng dầu đã ngừng hoạt động, và những rủi ro an ninh dai dẳng . Ngân hàng Thế giới củng cố thêm quan điểm này khi lưu ý rằng sản lượng vùng Vịnh khó có thể trở lại trước cuối tháng 6, và những hạn chế về cơ cấu sẽ còn kéo dài rất lâu sau bất kỳ lệnh ngừng bắn nào
.
Thiệt hại cơ cấu này càng trở nên nghiêm trọng bởi quy mô của cú sốc ban đầu. Vào một ngày bình thường, khoảng 17-20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm dầu quá cảnh qua eo biển Hormuz. Việc phong tỏa trên thực tế đã ngay lập tức rút khỏi dòng chảy toàn cầu khoảng 16-18 triệu thùng/ngày . Các biện pháp khẩn cấp và chuyển hướng tuyến đường chỉ bù đắp được một phần nhỏ tổn thất đó, để lại mức thâm hụt nguồn cung ròng toàn cầu vào khoảng 10,8 triệu thùng/ngày
. Với chi phí sửa chữa cơ sở hạ tầng năng lượng Trung Đông hiện được dự báo vượt quá 25 tỷ USD, con đường trở lại bình thường được đo bằng quý, chứ không phải bằng tuần
.
Sự sụp đổ sản lượng diễn ra trầm trọng nhất tại Saudi Arabia. Các báo cáo từ nhiều nguồn tình báo thị trường chỉ ra rằng sản lượng dầu thô của nước này đã rơi xuống mức chưa từng thấy kể từ Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990, thời điểm các mỏ dầu bị đốt cháy bởi lực lượng Iraq rút lui . Mặc dù con số cụ thể về thùng/ngày của vương quốc này chưa được xác nhận độc lập trong các nguồn thứ cấp mới nhất của OPEC, nhưng xu hướng là không thể bàn cãi. Chính các nhà sản xuất vùng Vịnh, vốn chiếm phần lớn trong mức sụt giảm tổng hợp 9,9 triệu thùng/ngày, bao gồm cả các mỏ dầu Saudi từng đóng vai trò là nhà sản xuất điều tiết của thế giới.
Sự xói mòn năng lực sản xuất dự phòng của Saudi Arabia mang những hệ lụy sâu sắc. Trong nhiều thập kỷ, khả năng nhanh chóng tăng hoặc giảm sản lượng của vương quốc này hoạt động như một van an toàn tối thượng của thị trường dầu mỏ toàn cầu. Giờ đây, khi bộ đệm đó đã bị suy giảm nghiêm trọng – cùng với việc các nhà sản xuất vùng Vịnh lân cận hoàn toàn ngừng hoạt động – thị trường đã bước vào giai đoạn mà Ngân hàng Thế giới gọi là cực kỳ mong manh .
Sự sụp đổ nguồn cung không phải là yếu tố biến động duy nhất. Báo cáo Thị trường Dầu mỏ tháng 5 năm 2026 của IEA đã đưa ra một sự điều chỉnh giảm mạnh đối với nhu cầu dầu toàn cầu, hiện dự báo mức sụt giảm khoảng 420.000 thùng/ngày trong năm nay. Tổng nhu cầu được dự báo ở mức xấp xỉ 104 triệu thùng/ngày, thấp hơn khoảng 1,3 triệu thùng/ngày so với dự báo trước chiến tranh của cơ quan này . Mức sụt giảm lớn nhất dự kiến diễn ra trong quý II năm 2026, với nhu cầu giảm khoảng 2,45 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái, khi giá dầu tăng vọt, hoạt động kinh tế chậm lại và các chuyến bay bị hủy hàng loạt bào mòn tiêu dùng
.
Sự hủy diệt nhu cầu này là hệ quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng nguồn cung. Giá dầu thô Brent dao động quanh mức 110 USD/thùng, còn dầu thô Dubai – giá tham chiếu cho các loại dầu chua Trung Đông – có thời điểm tăng vọt lên 170 USD . Các nhà máy lọc dầu ở châu Á, thiếu nguyên liệu đầu vào, đã cắt giảm công suất khoảng 6 triệu thùng/ngày
. Kết quả là một động lực trái ngược: ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu suy yếu và tiêu thụ dầu giảm, nguồn cung còn giảm nhanh hơn, khiến thị trường rơi vào tình trạng thiếu cung trầm trọng. Các cân đối mới nhất của IEA ngụ ý rằng nguồn cung sẽ thấp hơn tổng cầu 1,78 triệu thùng/ngày trong năm 2026, xóa sạch hoàn toàn kịch bản dư cung từng được dự báo trước đây
.
Sự mất cân đối cung-cầu đang ngốn hết các kho dự trữ toàn cầu với tốc độ đáng báo động. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trong Báo cáo Triển vọng Năng lượng Ngắn hạn tháng 5 năm 2026, đã điều chỉnh tăng mạnh dự báo về mức giảm tồn kho toàn cầu. Cơ quan này hiện dự kiến tồn kho dầu toàn cầu sẽ giảm 2,6 triệu thùng/ngày trong năm 2026, một bước nhảy vọt so với mức giảm 0,3 triệu thùng/ngày mà họ dự báo chỉ một tháng trước đó . Sự điều chỉnh này phản ánh một kịch bản giả định eo biển Hormuz mở cửa trở lại muộn hơn và thời gian phục hồi sản lượng lâu hơn. Trong mức trung bình năm đó, EIA dự kiến tồn kho sẽ giảm trung bình 8,5 triệu thùng/ngày chỉ riêng trong quý II
.
Ngôn ngữ của IEA cũng phản ánh sự báo động tương tự. Cơ quan này tuyên bố rằng các kho dự trữ đang bị rút cạn với “tốc độ chưa từng có” và thị trường sẽ còn thiếu cung trầm trọng ít nhất cho đến hết quý III năm 2026, ngay cả khi xung đột sớm kết thúc .
Sự kết hợp giữa mất mát nguồn cung mang tính cơ cấu, cạn kiệt nhanh chóng tồn kho và năng lực sản xuất dự phòng bị xói mòn nghiêm trọng đã tạo ra sự đồng thuận giữa các chuyên gia rằng thị trường hầu như không còn biên độ an toàn cho bất kỳ sự gián đoạn nào thêm. Với hơn 14 triệu thùng/ngày sản lượng bị đình trệ và các bộ đệm vùng Vịnh gần như cạn kiệt, giới phân tích nhấn mạnh rằng hầu như không còn “dư địa cho sai lầm” . Bất kỳ một cú sốc bổ sung nào – dù là leo thang xung đột, gián đoạn tại một điểm nghẽn thứ cấp, hay một sự cố bất ngờ ở các khu vực sản xuất khác – cũng có thể gây ra một cú tăng giá cực đoan hơn nữa.
Ngân hàng Thế giới đã làm nổi bật lỗ hổng này, cảnh báo rằng khi các bộ đệm toàn cầu bị rút cạn và năng lực sản xuất dự phòng thu hẹp, thị trường đã bước vào một thời kỳ cực kỳ mong manh . Quyết định nâng hạn ngạch tháng 7 của OPEC+, dù tuân thủ đúng lịch trình gỡ bỏ cắt giảm của nhóm về mặt kỹ thuật, nhưng chẳng thể làm gì để giảm bớt sự mong manh này. Lượng dầu mà các hạn ngạch trên lý thuyết cho phép đơn giản là không thể tiếp cận thị trường.
Khi cuộc họp OPEC+ ngày 07/06 đến gần, quyết định của liên minh được xem như một kết cục đã được báo trước. Mức tăng mục tiêu 188.000 thùng/ngày sẽ được phê duyệt, bổ sung thêm một lớp nguồn cung trên danh nghĩa cho một thị trường đang khan khát những thùng dầu thực sự. Những câu hỏi hệ trọng hơn nằm ngoài thông báo hạn ngạch: thiệt hại cơ cấu đối với cơ sở hạ tầng vùng Vịnh sẽ mất bao lâu để sửa chữa? Giá dầu cao sẽ hủy diệt vĩnh viễn bao nhiêu nhu cầu? Và bức tranh an ninh năng lượng toàn cầu sẽ ra sao sau khi sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ lớn nhất lịch sử cuối cùng bắt đầu đảo chiều?
Hiện tại, thị trường vẫn lơ lửng giữa hạn ngạch giấy đang tăng và nguồn cung vật chất đang sụp đổ – một nghịch lý định hình cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 2026.
Comments
0 comments