Các thông tin công khai mô tả động thái của Mỹ chủ yếu là phong tỏa các cảng Iran, ảnh hưởng đến những tàu đi đến hoặc rời Iran qua eo Hormuz . Điểm này quan trọng: phong tỏa cảng Iran không đồng nghĩa với một tuyên bố đóng toàn bộ thương mại hàng hải của vùng Vịnh.
Nhưng phản ứng từ Tehran khiến phép tính rủi ro của ngành vận tải biển trở nên rộng hơn. Một phát ngôn viên của bộ chỉ huy quân sự liên quân Iran cảnh báo rằng nếu an ninh các cảng Iran ở vịnh Ba Tư và biển Oman bị đe dọa, “không cảng nào” trong các vùng biển đó sẽ an toàn. Người này cũng nói các tàu “có liên hệ với đối phương” sẽ không có quyền đi qua eo Hormuz, trong khi những tàu khác vẫn được phép quá cảnh theo quy định của lực lượng vũ trang Iran .
Với chủ tàu, bên thuê tàu và công ty bảo hiểm, chính sự mơ hồ này đã là một chi phí. Ngay cả khi tàu không chở hàng Iran, các bên vẫn phải cân nhắc quốc tịch treo cờ, chủ sở hữu thực, nguồn tài trợ, điểm đến, hợp đồng thuê tàu hoặc bất kỳ liên hệ nào có thể bị một trong hai phía xem là thù địch. Các bản tin Reuters sau đó cũng mô tả việc hạn chế thương mại qua Hormuz tiếp diễn, cùng với các báo cáo về việc Iran bắt giữ tàu và Mỹ chặn các tàu chở dầu Iran .
Vì vậy, kết luận chắc nhất hiện nay là kết luận định tính: phong tỏa làm tăng bất định, nguy cơ chậm trễ và quyết định né tránh tuyến rủi ro đối với vận tải biển vùng Vịnh. Bộ nguồn hiện có chưa đủ để đưa ra con số đáng tin cậy về tổng khối lượng hàng hóa bị mất, mức tăng phí bảo hiểm hay chi phí lưu tàu.
Thị trường dầu phản ứng mạnh, nhưng không đi theo một đường thẳng. Ngày 13/4, các bản tin Reuters được đăng lại cho biết giá dầu bật trở lại trên 100 USD/thùng khi Hải quân Mỹ chuẩn bị chặn tàu đi và đến Iran qua eo Hormuz sau khi đàm phán thất bại; giới giao dịch nhận định động thái này có thể hạn chế phần xuất khẩu còn lại của Iran, lên tới 2 triệu thùng/ngày .
Một ngày sau, giá dầu chuẩn lại giảm xuống dưới 100 USD/thùng khi nhà giao dịch cân nhắc khả năng ngoại giao có thể được nối lại dù phong tỏa vẫn diễn ra . Sự đảo chiều này là điểm then chốt: thị trường không chỉ định giá gián đoạn vật chất, mà còn định giá xác suất leo thang hoặc xuống thang.
Biến động tiếp tục trong những ngày sau đó. Đến 23/4, bản tin Reuters cho biết dầu Brent tăng 1,47 USD lên 103,38 USD/thùng, còn West Texas Intermediate — dầu chuẩn của Mỹ — tăng 1,40 USD lên 94,36 USD/thùng, khi đàm phán Mỹ–Iran đình trệ và các hạn chế qua Hormuz tiếp tục hỗ trợ giá . Đến 30/4, Reuters đưa tin Washington đang tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế để khôi phục tự do hàng hải ở eo Hormuz, trong lúc giá dầu thô vọt lên mức cao nhất trong hơn bốn năm vì lo ngại gián đoạn nguồn cung kéo dài .
Logic thị trường khá rõ: Hormuz được xem là rủi ro hệ thống của năng lượng toàn cầu. Các bản tin về cuộc khủng hoảng mô tả eo biển này là tuyến đi qua của khoảng một phần năm lượng hàng dầu khí toàn cầu . Khi quyền tiếp cận bị đe dọa, nhà giao dịch cộng thêm phần bù rủi ro nguồn cung vào giá; khi đối thoại có vẻ khả thi, một phần phần bù đó được rút ra.
Phong tỏa diễn ra sau khi đàm phán Mỹ–Iran tại Islamabad, thủ đô Pakistan, đổ vỡ. Tuy vậy, nó chưa đóng sập cánh cửa ngoại giao. Các bản tin Reuters được đăng lại cho biết các nhà đàm phán Mỹ và Iran có thể quay lại Islamabad, trong khi quan chức Pakistan nói nỗ lực giải quyết xung đột vẫn đang tiếp diễn .
Vấn đề là trình tự. Một quan chức cấp cao Iran được cho là nói Tehran đang thúc đẩy một thỏa thuận mở lại eo Hormuz và dỡ phong tỏa của Mỹ đối với các cảng Iran trước, còn đàm phán về chương trình hạt nhân sẽ để sau . Điều đó biến quyền tiếp cận hàng hải từ vấn đề phụ thành điều kiện tiên quyết, nhượng bộ hoặc đòn bẩy — tùy bên nào mô tả.
Nỗ lực của Washington nhằm xây dựng một liên minh quốc tế để khôi phục tự do hàng hải ở Hormuz cũng cho thấy tranh chấp không còn thuần túy là câu chuyện song phương Mỹ–Iran . Các nước nhập khẩu năng lượng, các quốc gia vùng Vịnh và những nền kinh tế phụ thuộc vào vận tải biển đều có lợi ích trong việc eo biển này mở, mở một phần hay tiếp tục bị tranh chấp.
Có thể nói chắc rằng phong tỏa đang tác động đến vận tải thương mại bằng cách làm tăng bất định quanh các cảng Iran và hoạt động quá cảnh liên quan đến Hormuz, nhất là sau cảnh báo của Iran về các tàu “có liên hệ với đối phương” . Nó tác động đến thị trường dầu bằng cách duy trì phần bù rủi ro: phần bù này tăng khi căng thẳng leo thang và giảm khi triển vọng đàm phán có vẻ đáng tin . Nó cũng tác động đến ngoại giao bằng cách đưa việc dỡ phong tỏa cảng và mở lại Hormuz vào trình tự đàm phán, thay vì coi đó là một hồ sơ hàng hải riêng lẻ .
Điều không nên nói quá là quy mô chính xác của thiệt hại. Một số báo cáo đưa ra những tuyên bố mạnh hơn về tàu chở dầu bị vô hiệu hóa hoặc thương mại hàng hải Iran gần như tê liệt hoàn toàn, nhưng các chi tiết này chưa được xác nhận nhất quán trong nhóm nguồn đáng tin cậy hơn hiện có . Đánh giá thận trọng hơn là: phong tỏa đã làm rủi ro và biến động tăng đáng kể, còn thiệt hại kinh tế cụ thể vẫn chưa thể lượng hóa chắc chắn.